Xử lý Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu & Nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP (TTLT 01) hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình do Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp ban hành.
 
TTLT 01 có hiệu lực vào ngày 01/03/2016.
 
XỬ LÝ THỎA THUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG BỊ VÔ HIỆU
 
Các trường hợp Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng (Thỏa thuận tài sản vợ chồng) bị Tòa án tuyên vô hiệu gồm:

> Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

> Vi phạm các nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng, gồm:
- Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
- Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
- Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường.

> Vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, gồm:
- Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
- Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên.

> Vi phạm quy định về Giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng, cụ thể là việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở thuộcsở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng. Cụ thể, trường hợp thỏa thuận tài sản vợ chồng cho phép một bên được quyền định đoạt nhà ở là nơi ở duy nhất của vợ chồng dẫn đến vợ, chồng không có chỗ ở hoặc không bảo đảm chỗ ở tối thiểu về diện tích, điều kiện sinh hoạt, an toàn, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật về nhà ở.

> Vi phạm quy định về Giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, cụ thể:
- Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó.
- Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng đang chiếm hữu động sản mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó trong trường hợp Bộ luật dân sự có quy định về việc bảo vệ người thứ ba ngay tình.

> Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng,quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình. Cụ thể là trường hợp thỏa thuận nhằm:
- Trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con; con đối với cha, mẹ; giữa anh, chị, em; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng khi ly hôn theo quy định.
- Để tước bỏ quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự
- Vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình đã được Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật khác có liên quan quy định.
 
Người có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố Thỏa thuận tài sản vợ chồng bị vô hiệu (do thuộc trường hợp vô hiệu), gồm:

> Vợ, chồng hoặc vợ chồng đã thỏa thuận về chế độ tài sản;

> Người bị xâm phạm, người giám hộ của người bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp do có thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng.
 
Yêu cầu Tòa án xem xét thỏa Thuận tài sản vợ chồng vô hiệu (một phần hoặc toàn bộ) có thể được đưa ra trong vụ việc dân sự có liên quan đến nội dung Thỏa thuận tài sản vợ chồng.
 
Trường hợp một thỏa thuận tài sản vợ chồng bị tuyên vô hiệu toàn bộ thì chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng. Trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị tuyên bố vô hiệu một phần thì các nội dung không bị vô hiệu của thỏa thuận vẫn được áp dụng; đối với phần nội dung bị vô hiệu thì các quy định tương ứng về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng.
 

NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
 
Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có việc phân chia tài sản.
 
Nếu vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, cụ thể:

> Nếu không có thỏa thuận tài sản vợ chồng hoặc thỏa thuận bị tuyên vô hiệu thì áp dụng chế độ tài sản vợ chồng theo luật định để chia tài sản khi ly hôn theo nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, có tính đến các yếu tố sau để xác định tỷ lệ được chia:
- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng.
- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.
- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập.
- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng (VD: chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản.)
 
> Trường hợp có văn bản thỏa thuận tài sản vợ chồng thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các quy định về giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn.
 
Khi giải quyết ly hôn, nếu có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận tài sản vợ chồng bị vô hiệu thì Tòa án xem xét, giải quyết đồng thời với yêu cầu chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.
 
Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc.
 
Quyền, nghĩa vụ tài sản đối với người thứ ba - Tòa án phải xác định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
 
Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba mà họ có yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng.
 
Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác.
 
Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.